Võ Tánh
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một danh tướng thời Nguyễn: Võ Tánh là một võ tướng nổi tiếng, trung thành với chúa Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long sau này), có công lớn trong cuộc chiến chống lại quân Tây Sơn.
- Một trong "Gia Định tam hùng": Ông được người đương thời tôn vinh là một trong ba anh hùng hào kiệt của vùng đất Gia Định.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Võ Tánh là một vị tướng tài ba và trung liệt.
- Lăng mộ của danh tướng Võ Tánh hiện nằm ở quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tấm gương trung liệt của Võ Tánh": Cụm từ dùng để ca ngợi lòng trung thành và sự hy sinh quên mình của ông, đặc biệt là hành động tuẫn tiết tại thành Bình Định.
- Sử sách còn ghi lại tấm gương trung liệt của Võ Tánh.
"Chiến thuật cầm chân của Võ Tánh": Ám chỉ việc ông kiên cường phòng thủ thành Bình Định để tạo thời cơ cho chủ tướng.
- Nhờ chiến thuật cầm chân của Võ Tánh, Nguyễn Ánh đã có cơ hội tấn công Phú Xuân.
Biến thể và từ liên quan
- "Gia Định tam hùng": Danh hiệu tập thể dành cho ba vị anh hùng ở Gia Định thời bấy giờ, bao gồm Võ Tánh, Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp.
- Quận công Võ Tánh: Cách gọi trang trọng, thể hiện tước vị của ông.
- Thành Bình Định/Võ Tánh: Tên thành trì nơi ông trấn giữ và hy sinh, đôi khi được gắn liền với tên ông.
Từ đồng nghĩa/Từ cùng trường nghĩa
- Danh tướng: Vị tướng tài giỏi, nổi tiếng.
- Trung thần: Bề tôi hết lòng trung thành với vua/chúa.
- Tuẫn tiết: Hy sinh tính mạng vì nghĩa lớn, vì lòng trung.
Các cụm từ liên quan
- Tuẫn tiết theo thành: Hành động tự sát để giữ trọn khí tiết khi thành trì thất thủ, gắn liền với cái chết của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu.
- Đổi gạch lấy vàng: Một kế sách quân sự (ám chỉ việc Võ Tánh cố thủ ở Bình Định - "gạch" - để Nguyễn Ánh đánh lấy Phú Xuân - "vàng").
Địa danh/Di tích lịch sử liên quan
- Lăng Võ Tánh: Khu lăng mộ của ông tại Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thành Bình Định (Quy Nhơn): Pháo đài nơi ông trấn thủ và hy sinh.
- Gò Công (Gò Khổng Tước): Nơi ông khởi binh và lập được chiến công đầu tiên, giết chết tướng Tây Sơn Ngụy Nguyên.
- ( - 1801)
- Danh tướng đời Gia Long, quê ở huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc Đồng Nai), sau dời về huyện Bìh Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. HCM), không biết năm sinh, tuẫn tiết tại Bình Định ngày 07-07-1801
- Năm 1785, Tây Sơn vào Gia Định, Nguyễn Phúc ánh chạy ra Phú Quốc, ông dấy binh ở Phù Viên (Vườn Trầu, tức vùng Hóc Môn, Bà Điểm), sau dời xuống Định Tường, giữ gò Khổng Tước (tức Gò Công), ông tự xưng Tổng Nhung, chia binh làm 5 đạo gọi là đạo "Kiến Hòa" Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai tướng Ngụy Nguyên đánh Gò Công, ông giết chết Ngụy Nguyên, oai danh lừng lẫy từ đấy, được xưng tụng là một trong "Gia Định tam hùng". Năm 1787, Nguyễn ánh sai Nguyễn Đức Xuyên, Trương Phúc Giáo triệu thỉnh ông. Năm 1788, ông đem đạo quân bản bộ và các thuộc hạ Võ Văn Lương, Trần Đôn Tín, Mạc Văn Tô, Nguyễn Văn Hiếu theo Nguyễn ánh tại Hồi Oa (Nước xoáy, Sa Đéc), được phong làm Khâm sai Tổng nhung, dinh Tiền Phong, sau đó được Nguyễn Vương gả em là Ngọc Du công chúa. Do nhiều công trận, năm 1795 ông thăng Khâm sai Chưởng hậu quân, Bình tây Tham thặng Đại tướng quân, tước Quận công
- Năm 1800, ông trấn thủ thành Quy Nhơn (đã đổi tên là Bình Định) bị Thượng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng vây ngặt. Ông cố sức cầm chân quân Tây Sơn để Nguyễn ánh thừa thế ra đánh Phú Xuân theo chước "đổi gạch lấy vàng". Khi không cầm cự được nữa. Hiệp trấn Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết, hôm sau, ngày 07-07-1801 ông tự thiêu nơi lầu Bát Giác sau khi gửi thơ yêu cầu tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu chớ giết hại binh sĩ trong thành; cùng chết theo ông có tùy tướng Nguyễn Tấn Huyên. Hài cốt ông được vua Gia Long sai Đinh Công Khiêm và Tôn Thất Bình đưa vào Gia Định chôn cất (lăng ở Phú Nhuận, TP. HCM)